Tinnhanh Việt Nam nhanh thật

Ngày 19 tháng 9 năm 2007

[Cập nhật] Britney Spears và sự tri nhận sai lệch về hình ảnh dung nhan của chị em phụ nữ

 

Hầu như tất tật mọi thứ xoay quanh đời sống của nữ ca sĩ lừng danh và tai tiếng Britney Spears đều luôn được tờ Tin nhanh Việt Nam theo dõi sát sao: đi đâu, với ai, mặc gì, trông như thế nào, tình hình nuôi con, bồ bịch, ăn chơi nhảy múa ra sao,…

Thế mà chẳng hiểu nguyên nhân cánh phóng viên chuyên mục Văn hoá của nước nhà bỗng quên, không tường thuật lời tự bạch của “công chúa nhạc pop” Britney trong lần trở lại sân khấu tại lễ trao giải MTV Video mới đây thôi:

Trời ơi là trời, sao mình giống một con heo ú, như một con heo ú thế này hả trời! (“Oh, my God, I looked like a fat pig! I looked like a fat pig!”)

Xem chừng lâm vào thế tụt dốc, phát ngôn ấn tượng của Britney đã minh hoạ rõ ràng cho sự xoắn bện vững chắc trong diễn trình tri nhận về vẻ ngoài mảnh mai (thinness) của chị em phụ nữ Hoa Kỳ hiện nay, thậm chí, nó còn phản ánh ít nhiều tâm tưởng của không ít bạn nữ thanh niên trên thế giới.

Dễ thấy là Britney không gầy như que củi; thực sự cô ấy trông tựa như bất cứ ai mà các bác sĩ Mỹ quốc sẽ nhanh chóng cho là có thể tạng bình thường, khoẻ mạnh.

Vậy nên, một khi thể tạng bình thường (healthy weight) được xem béo mập, dưới mức cân nặng (underweight) là trạng thái ao ước, và thân hình quá cỡ (overweight) thành chuẩn tắc thì không cần lăn tăn cơn cớ chi khi nhiều vô kể phụ nữ gặp phải vấn đề về hình ảnh dung nhan của bản thân (body image).

Tôi là cô gái không thon gọn cho lắm. Những lời trêu chọc của bạn bè, đồng nghiệp và những người xung quanh khiến tôi luôn bị ám ảnh về cân nặng của mình.

Câu chuyện của một cô gái Việt Nam cùng lời khuyên giảm cân “Hãy ăn tối như một kẻ ăn mày!” rất khẩn thiết càng góp phần vẽ nên bức tranh quá đỗi muộn phiền và tốn hao tiền bạc, của thời đại bị ám ảnh chưa nguôi bởi chứng phì nộn.

Từ góc độ Tâm bệnh học, các rối loạn liên quan đến ăn uống như chán ăn (anorexia), ăn quá độ tâm thần (bulimia nervosa) và nghiến ngấu thức ăn mê mải (binge eating disorder) rốt ráo ra, đều xuất phát từ sự lệch lạc trong việc tri nhận hình ảnh cơ thể của chính mình.

Và có vẻ những biểu hiện bất ổn, dị biệt liên quan đến việc ăn uống thường xuyên rập rình phụ nữ: đâu chỉ có trẻ con, trung niên cũng mắc chứng chán ăn tâm thần; khi mang thai thì dễ sinh tật nghiến ngấu ghê gớm, còn các bà, các chị lớn tuổi (U30, 40, 50) lại tăng cường kiếm tìm cách chữa trị; giới hữu trách lo lắng ngăn chặn chuyện luyện tập thể dục, thể thao (nhằm nâng cao sức khoẻ chứ không thiết yếu để giảm cân) khỏi các rối loạn do ăn uống,…

Thực tế, rối loạn ăn uống bởi vì tri nhận sai lệch hình ảnh cơ thể còn xảy ra ở đàn ông nữa. Với mẫu 9000 người, nghiên cứu tại Hoa Kỳ cho thấy: tỷ lệ chán ăn, ăn vô độ và nghiến ngấu thức ăn mê mải ở phụ nữ và đàn ông lần lượt là 0,9%, 1,5% và 3,5% so với 0,3%, 5% và 2,0%!

Từ Britney Spears, nghĩ đến vấn đề tri nhận sai lệch hình ảnh dung nhan của chị em; nó đúng là khởi nguồn nảy sinh lắm hiện tượng cực kỳ phức tạp, gây hậu quả nặng nề và kéo dài- cả tinh thần lẫn thể lý, trong quan hệ xã hội và đời sống riêng tư.

Tỷ dụ là trần tình dưới đây của một nữ bệnh nhân bị đoạ đày từ 11 tuổi:

Chán ăn tâm thần vẫn được xem như là sự truy lùng, kiếm tìm một thân hình mẫu mực, lúc một cô bé tuổi teen tàn phai hay do ăn uống sai lạc. Nó cũng được mô tả là một sự lựa chọn phong cách sống. Hiếm có trạng thái bệnh lý y khoa nào đe doạ sự sống còn như hội chứng chán ăn tâm thần. Nhiều cô gái thuộc đối tượng này ghê tởm cơ thể mình, chối từ ngay cả những dịp nghỉ thoáng chốc với gia đình. Giống như một số bệnh nhân rối loạn ăn uống khác mà bản thân từng tiếp xúc, tôi không bao giờ nhăm nhăm vào sắc đẹp; trái lại, trong nhiều năm trời, tôi làm mình trông ốm yếu đến mức có thể, cốt tránh sự chú ý của đàn ông.



Nhìn qua cái gương mờ tối, các khổ chủ đều từa tựa nhau:

Rối loạn ăn uống gồm các trạng thái bệnh lý tâm thần phức tạp, kết hợp của nhiều yếu tố bẩm sinh và hoàn cảnh. Tuy thế, hầu hết bệnh nhân phải chịu cơn đau tinh thần sâu xa do có tri nhận sai lệch về hình ảnh cơ thể- một thuật ngữ được các nhà tâm lý học dùng để mô tả hình ảnh nội tâm của mỗi cá nhân về vẻ bên ngoài của mình. Thực tế, hình ảnh này phản ánh một cách chính xác về sự tự tin (self-esteem) hơn là hình dạng thể lý; không phụ thuộc quá nhiều vào sự kiện cảm xúc, ý kiến này nọ của gia đình và bè bạn cũng như các ý tưởng văn hoá, hình ảnh cơ thể lại có thể gây nên những biến đổi mạnh mẽ trong mọi chiều kích của nó.

Đa phần mọi người gắn kết một cách xứng hợp hình ảnh cơ thể với vẻ ngoài của họ. Song với đối tượng mắc rối loạn ăn uống, bức tranh tinh thần này trở nên xiên xẹo như kiểu phản chiếu trong ngôi nhà gương gây cười: hết sức bóp méo và thường to béo quá thể. Nói chung, các kế hoạch điều trị phải rất đa diện: dinh dưỡng, y khoa, tâm thần và can thiệp tâm lý.

Cụ thể như với hội chứng ăn quá độ (thường gặp ở độ tuổi 18-35), nghiên cứu chứng tỏ tính hiệu quả của việc trị liệu dựa vào gia đình. Giới chuyên môn cũng đã chỉ ra mối quan hệ giữa sự tăng cân trở lại với hormone béo phì leptin.

Cuộc đấu tranh đẩy lùi bệnh tật, duy trì luyện tập thật cam go: một bước tiến, hai bước lùi. Các rối loạn ăn uống có thể xuất phát từ những sang chấn thời còn ấu thơ, đặc biệt hình ảnh bản thân của trẻ sẽ rất kém cỏi khi chúng không sống trong môi trường được chấp nhận và bảo bọc an toàn:

Nhiều động cơ thuộc về gia đình dính dấp đến hình ảnh cái tôi kém cỏi. Dù các rối loạn ăn uống diễn ra ở đủ kiểu loại gia đình, song hiện tượng này hay xảy đến ở những gia đình mang một số nét đặc trưng: có địa vị xã hội, học hành tử tế, và họ thường hiện diện với thế giới bên ngoài như một tổ ấm ấm êm, tuyệt vời. Kỳ thực, con cái trong nhà cảm thấy bị áp lực cao độ phải giỏi giang, bố mẹ kỳ vọng lớn, và những cảm xúc tiêu cực như tức giận hoặc ganh tỵ bị nén xuống. Để gìn giữ những tiêu chuẩn vượt trội này, họ mắc các rối loạn ăn uống vì phấn đấu thành sinh viên thời thượng, hoặc người lớn thì hướng đến cuộc sống hoàn hảo. Ngay cả khi đã được thế, họ vẫn còn cảm thấy chưa thoả mãn.

Đồng thời, thật khó khăn để đo lường ảnh hưởng trực tiếp của hàng đống tạp chí và hằng hà sa số hình ảnh từ các phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau làm biến chuyển hành vi ăn uống hàng ngày (lưu ý, vấn đề của người ăn kiêng không giống như với người mắc rối loạn ăn uống); trong bài báo đã dẫn, người ta thấy hồi TV mới giới thiệu về hòn đảo Fiji-Thái Bình Dương thì chỉ có 3% nữ sinh tầm 17 tuổi biểu hiện nôn mửa để kiểm soát cân nặng; vậy mà, 8 năm sau, con số đó tăng lên 15%; 74% các cô gái thi thoảng lại bảo mình cảm thấy “quá béo hoặc phì nộn”, bất kể truyền thống xứ Fiji vốn gắn kết hình thể khoẻ khoắn với tầng lớp có địa vị cao hơn trong xã hội.

Nói đâu xa xôi, chỉ cần chăm chỉ đọc nội dung tuyên truyền, giáo dục dân trí với loại tiêu đề Những ông chồng mải chơi Điều gì khiến phụ nữ không gợi cảm? hay đều đặn ngồi trước màn hình để rửa mắt lớp lớp quảng cáo “sành điệu, bản lĩnh, đẳng cấp” mà dân Việt chẳng hề cảm thấy tí ti gì nhu cầu săm soi người và nhìn kỹ lại mình để rồi tuyệt không bồn chồn, nôn nao tưởng nghĩ chi mới là chuyện lạ.

 

Ngày 09 tháng 8 năm 2006

Chuột, thói ăn vặt và người béo phì

 

Ăn để mà sống, chứ không phải sống để mà ăn” là một câu cửa miệng quen thuộc.

Dưới đây là hai cuộc điều tra khá ấn tượng có liên quan đến một trong các “tứ khoái” rất đời của con người.

Thực nghiệm nhằm tìm hiểu khoái cảm của chuyện ăn vặt phát hiện một vấn đề thú vị:

Ăn bữa lở (ngoài các bữa chính)/ eating outside regular meals có thể đã là nguyên nhân kích hoạt các gene bất thường trong não khiến đối tượng mong chờ thức ăn vào các thời điểm không thích hợp.

Trái với con người, chuột thức suốt ngày và ăn trong đêm.

Đầu tiên người ta cho chuột ăn theo thời biểu nhất định, rồi huấn luyện chúng ăn vào những thời điểm bất thường. Các nhà khoa học nhận thấy: một phần riêng biệt của não đáp ứng với sự kích hoạt của đồng hồ sinh học đến độ mà ngay cả khi không cho ăn, não của chúng cũng sẽ lập trình để đợi tới lúc được xơi.

Những con chuột sau khi được cho ăn trong điều kiện trái với đời sống tự nhiên của chúng đã nhanh chóng khởi sự việc tìm kiếm thức ăn 2 giờ trước kỳ hạn dự định.

Thậm chí, lúc lũ chuột không được cho ăn suốt 2 ngày liền thì các genes trong não chúng liên kết nhau để tạo ra sự mong đợi thời điểm ăn uống mới.

Và thay vì ngủ vùi vào ban ngày và thức đêm đợi ăn, thì nay chuột lại bắt đầu ăn suốt ngày còn đêm thì ngủ.

Phát hiện khoa học về chuột vừa trình bày trên có dính dáng với thói quen ăn vặt– những người tán đồng rằng việc nhai nhóp nhép/ munch hay nhất thường hay xảy ra vào khoảng thời gian nửa đêm.

Rõ ràng, việc này rất ít phụ thuộc vào đồ ăn có trong tủ lạnh mà chủ yếu liên quan với mùi vị được đánh thức bởi những genes lập trình sẵn/ re-programed workings of the genes trong não khiến đồng hồ sinh học thao tác.

Theo WHO, ước tính trên thế giới hiện có chừng 300 triệu người béo phì. Riêng một cuộc điều tra qua điện thoại trên 11.000 đối tượng mới đây cho biết: hơn ¾ số người Mỹ béo phì/ obese Americans nói rằng họ có các thói quen ăn uống lành mạnh, đúng cách/ healthy eating habits.

Báo cáo cũng tiết lộ thêm chi tiết: khoảng 40% người béo phì bảo họ tập thể dục “nặng”/ do “vigorous” exercise ít nhất 3 lần mỗi tuần.

Ngoài ra, còn có một số dữ kiện khác được thu thập: 28% người béo phì cho hay là họ ăn vặt/ snacking hơn 2 lần/ ngày; trong khi đó số người thể trọng bình thường/ normal weight people có cùng thói quen này là 24%.

Điều đáng ngạc nhiên, là khoảng 19% người béo phì luôn đọc nhãn hiệu hàng hoá dinh dưỡng trên bao bì thực phẩm, so với người thể trọng bình thường: 24%; và khoảng 29% người béo phì thường hay đi ăn nhà hàng từ 3 lần/ tuần, so với 25% đối tượng kia.

Tuy vậy, sự khác biệt lớn nhất giữa hai đối tượng nằm ở cách trả lời câu hỏi: Ông/ bà thường hay dùng hết tất cả thức ăn được phục vụ tại khách sạn? Kết quả: 41%- béo phì, 31%- bình thường.